Ngày 23 tháng 5 năm 2018
 

Trang chủ | Giới thiệu | Hướng dẫn 
  VĂN BẢN TRONG TUẦN
  CƠ QUAN BAN HÀNH
    CHÍNH PHỦ
    BỘ VÀ NGANG BỘ
    LIÊN BỘ
    HĐND TỈNH
    UBND TỈNH
    CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND TỈNH
    BAN CHỈ ĐẠO, HỘI ĐỒNG TƯ VẤN
    HĐND HUYỆN, THỊ XÃ, THÀNH PHỐ
    UBND HUYỆN, THỊ XÃ, THÀNH PHỐ
    LIÊN NGÀNH
  LOẠI VĂN BẢN
CHI TIẾT VĂN BẢN
[  Các văn bản khác]
UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
——————————————
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————————————————————————
Số: 39/ĐA-UBND
 

Huế, ngày 26 tháng 6 năm 2007    
ĐỀ ÁN
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đến năm 2010.

 

     Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg ngày 21 tháng 4 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XII về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2002-2005. Gần 10 năm qua Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã tập trung chỉ đạo, tiến hành sắp xếp doanh nghiệp nhà nước từng bước góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường trong thời kỳ đổi mới. Kết quả đạt được như sau:

Phần I

KẾT QUẢ SẮP XẾP, ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THUỘC TỈNH QUẢN LÝ TỪ NĂM 1998 ĐẾN 31/12/2006

I. Thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai, thực hiện:

1. Thuận lợi :

Quá trình triển khai, thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước có những thuận lợi sau:

            - Các Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành về sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước qua các giai đoạn ban hành khá kịp thời và được sửa đổi, thay thế ngày càng phù hợp với tình hình thực tế hơn; tạo điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện. 

- Được sự quan tâm và chỉ đạo có hiệu quả của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; sự hướng dẫn cụ thể của các Bộ, Ban, Ngành liên quan của Trung ương sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành, địa phương,

            - UBND tỉnh đã kịp thời kiện toàn Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh có cán bộ chuyên trách (năm 2005), duy trì chế độ làm việc định kỳ, kịp thời theo dõi tiến độ, tổng hợp; có các biện pháp xử lý các vướng mắc nảy sinh trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước đồng thời tranh thủ tối đa sự chỉ đạo của Chính phủ, Ban Chỉ đạo Đổi mới Quản lý doanh nghiệp Trung ương.

- Nhận thức của cán bộ lãnh đạo quản lý và người lao động trong doanh nghiệp ngày càng cao và từ đó đã chủ động trong tổ chức thực hiện các nội dung theo đúng tiến độ.

2. Khó khăn :

Bên cạnh những thuận lợi trên đây, trong quá trình triển khai thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là:

- Doanh nghiệp ở tỉnh ta đa số vừa và nhỏ, hiệu quả kinh doanh thấp, tình hình tài chính yếu kém, lại bị ảnh hưởng nặng nề của hậu quả lũ lụt vào cuối năm 1999 và một số năm tiếp theo làm cho nhiều doanh nghiệp bị lỗ, chậm được khắc phục, một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn. Mặt khác, thói quen mua cổ phần trong các doanh nghiệp chưa hình thành, đời sống người lao động còn thấp, việc chuyển đổi, sắp xếp lại đồng loạt nhiều doanh nghiệp đã ảnh hưởng đến việc bán cổ phiếu của các doanh nghiệp.

- Một số lãnh đạo và người lao động ở doanh nghiệp nhận thức chưa đầy đủ nên còn chần chừ, do dự chưa muốn chuyển đổi hình thức sở hữu vì sợ ảnh hưởng đến vị trí công tác, quyền lợi và sự ổn định trong công việc. Một số khác còn tư tưởng ỷ lại, nặng về bao cấp chưa thấy được lợi ích thiết thực sau khi chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp.

- Trong chỉ đạo điều hành, một số sở, ngành chức năng, địa phương thiếu cương quyết để lựa chọn mô hình sắp xếp, chuyển đổi cho các doanh nghiệp phù hợp.

 - Nhà nước chưa có thiết chế cụ thể để buộc các doanh nghiệp thuộc diện không giữ 100 % vốn Điều lệ phải chuyển đổi sở hữu.

          - Công tác thẩm định giá trị doanh nghiệp còn lúng túng, kéo dài, một mặt, do hướng dẫn của Trung ương có điểm chưa rõ; mặt khác, do đặc thù tài sản của một số doanh nghiệp vừa nhiều chủng loại, vừa phân tán, cơ cấu công nghệ trong một tài sản lại nhiều thế hệ, nhiều nước, tiêu chí đánh giá lại cần có chuyên gia, kinh nghiệm. Tình hình tài chính của nhiều doanh nghiệp còn tồn tại vướng mắc, chưa kịp thời xử lý, nên ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng sắp xếp, chuyển đổi.

          - Hiệu quả hoạt động kinh doanh của phần lớn các doanh nghiệp nhà nước chưa cao nên khi cổ phần hoá tất cả doanh nghiệp chỉ thực hiện phương án thuê đất không áp dụng đưa giá đất vào giá trị doanh nghiệp.

- Hầu hết các thành viên của Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh đều kiêm nhiệm, thiếu điều kiện tập trung thời gian vào công tác chỉ đạo, hướng dẫn nên hiệu quả sắp xếp chuyển đổi doanh nghiệp còn hạn chế, tiến độ thực hiện chậm.

          II. Kết quả triển khai, thực hiện :

1. Số lượng các doanh nghiệp đã sắp xếp, chuyển đổi:

Đến cuối năm 2006, toàn tỉnh đã sắp xếp, chuyển đổi được 113 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp, cụ thể:

- Cổ phần hoá 53 doanh nghiệp (trong đó có 17 bộ phận doanh nghiệp), chiếm tỷ lệ 47%.

- Giao cho tập thể người lao động 6 doanh nghiệp (trong đó có 2 bộ phận doanh nghiệp), chiếm tỷ lệ 5,3%.

- Chuyển sang công ty TNHH Nhà nước một thành viên 12 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 10,6%.

- Sáp nhập vào doanh nghiệp khác 18 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 15,9 %.

- Bán bộ phận doanh nghiệp 01 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 0,9 %.

- Chuyển sang đơn vị sự nghiệp và Trung ương quản lý 8 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 7%.

- Giải thể 10 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 9 %.

- Phá sản 5 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 4,3%.

* Số lượng doanh nghiệp sắp xếp, chuyển đổi qua các năm như sau :

- Năm 1998 trở về trước : 11 doanh nghiệp - Năm 2003: 09 doanh nghiệp

- Năm 1999: 04 doanh nghiệp                           - Năm 2004: 13 doanh nghiệp

- Năm 2000: 11 doanh nghiệp                           - Năm 2005: 44 doanh nghiệp

- Năm 2001: 06 doanh nghiệp                           - Năm 2006: 07 doanh nghiệp

- Năm 2002: 08 doanh nghiệp

Bình quân mỗi năm sắp xếp, chuyển đổi xấp xỉ 13 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp.

* Kết quả sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp chia theo từng thời kỳ:

- Giai đoạn 1998 – 2001: 32 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 28,3%.

- Giai đoạn 2002 – 2006: 81 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 71,7 %.

Nhìn chung, việc sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2002 – 2005 và hình thức sắp xếp, chuyển đổi chủ yếu là cổ phần hoá.

* Tỷ lệ doanh nghiệp sắp xếp, chuyển đổi toàn bộ trên tổng số doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh trước khi sắp xếp, chuyển đổi là 93/97DN, đạt tỷ lệ 95%. Tính đến hết năm 2006, số doanh nghiệp đã sắp xếp, chuyển đổi giai đoạn 2002-2005 đạt 162% chỉ tiêu xác định tại Nghị quyết 10-NQ/TU ngày 26/7/2002 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XII; đồng thời, đã cơ bản hoàn thành kế hoạch sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước theo các Quyết định 64/QĐ-TTg ngày 14/01/2003 và Quyết định 63/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch sắp xếp chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước đến năm 2006.

(Có phụ lục chi tiết số 1 kèm theo)

2. Kết quả huy động vốn xã hội thông qua hình thức cổ phần hoá: Tính đến cuối năm 2006 tổng vốn điều lệ của các công ty cổ phần là 344,13 tỷ đồng, trong đó vốn nhà nước 103,38 tỷ đồng chiếm 30%, vốn của các cổ đông khác 240,75 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 70%. Việc sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp đã huy động được một lượng vốn đáng kể của xã hội vào kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, thực hiện đa sở hữu nguồn vốn đầu tư vào doanh nghiệp theo đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra; Tuy nhiên, việc chuyển nhượng cổ phần tại một số doanh nghiệp vẫn còn mang tính khép kín, một số doanh nghiệp chỉ bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, hoặc chuyển nhượng ra bên ngoài với tỷ lệ thấp, một số doanh nghiệp tỷ lệ cổ phần bán ra không đảm bảo theo phương án.

(Có phụ lục chi tiết số 1b kèm theo)

3. Sắp xếp, bố trí và giải quyết chế độ, chính sách cho người lao động tại các doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, chuyển đổi:

Tổng số lao động của các doanh nghiệp sắp xếp giai đoạn 2002–2005 là 14.683 người, số lao động tiếp tục làm việc sau sắp xếp, chuyển đổi là 11.675 người, chiếm tỷ lệ 79,58%; số lao động dôi dư là 3.026 người, chiếm tỷ lệ 20,42%. Lao động dôi dư được giải quyết chế độ theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP là 2.668 người, chiếm tỷ lệ 88,16 %, giải quyết theo Bộ Luật Lao động là 358 người, chiếm tỷ lệ 11,84 %. Số tiền giải quyết, chi trả theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP là 81,024 tỷ đồng, bình quân 01 lao động được nhận 30,36 triệu đồng.

4. Xử lý tài chính trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi:

Tổng số xử lý giảm vốn nhà nước tại các doanh nghiệp để trang trải chi phí cổ phần hoá, thực hiện các chế độ ưu đãi, xử lý giá trị tài sản tồn đọng và nợ khó đòi loại trừ khỏi giá trị doanh nghiệp và xử lý các vấn đề tồn đọng về tài chính (lỗ, chi quá quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi) của 54 doanh nghiệp nhà nước là 97,147 tỷ đồng, bình quân 1,8 tỷ đồng/doanh nghiệp. Trong đó:  

- Tài sản và nợ loại khỏi giá trị DN: 18,59 tỷ đồng, chiếm 19,10 %

            - Chi phí cổ phần hoá: 4,853 tỷ đồng, chiếm 5,00 %.

            - Thực hiện chính sách ưu đãi: 22,625 tỷ đồng, chiếm 23,30 %.

            - Xử lý lỗ trong quá trình sắp xếp: 50,883 tỷ đồng, chiếm 52,38 %.

            - Chi quá quỹ khen thưởng, phúc lợi: 0,193 tỷ đ, chiếm 0,22%

Việc giảm vốn chủ yếu do xử lý lỗ trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi của một số doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh nhằm làm trong sạch tình hình tài chính, tạo điều kiện ổn định và phát triển các doanh nghiệp sau sắp xếp.

(Có phụ lục chi tiết số 2 kèm theo)

III. Khái quát tình hình các doanh nghiệp nhà nước sau chuyển đổi:

1. Các công ty cổ phần:

            Ước kết quả sản xuất kinh doanh năm 2006 của 46 doanh nghiệp sau chuyển đổi (không kể 6 bộ phận doanh nghiệp mới cổ phần hoá vào cuối năm 2006 và Công ty CP Sông Hương không hoạt động ngay sau khi chuyển đổi) và so sánh với năm trước cổ phần, kết quả như sau:

            a. Doanh thu: Tổng doanh thu đạt 1.515 tỷ đồng, bình quân 01 DN đạt 32,23 tỷ đồng gấp 1,62 lần so với trước cổ phần hoá, trong đó có những DN doanh thu lớn và tăng trưởng nhiều so với trước cổ phần như: Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu (189 tỷ đồng); Công ty cổ phần Huetronic (126 tỷ đồng); Công ty cổ phần Long Thọ (107 tỷ đồng); Công ty cổ phần Frit Huế (125 tỷ đồng)...

            b. Hiệu quả kinh doanh :

            - Có 40/46 doanh nghiệp có lãi, tăng 7 doanh nghiệp so với trước cổ phần hoá, số lãi bình quân doanh nghiệp gần 1,34 tỷ đồng gấp 2,33 lần so với trước cổ phần hoá, trong đó các doanh nghiệp lãi lớn là Công ty cổ phần Long Thọ (22 tỷ đồng), Công ty cổ phần Cơ khí Ô tô Thống nhất (3 tỷ đồng), Công ty cổ phần Phát triển thủy sản (1,829 tỷ đồng),...

            - Có 7 doanh nghiệp chưa có hiệu quả và thua lỗ (giảm 7 doanh nghiệp so với trước cổ phần hoá) với tổng số lỗ là 8,16 tỷ đồng, bình quân 01 doanh nghiệp lỗ 1,166 tỷ đồng, giảm 7 doanh nghiệp so với trước cổ phần. Cụ thể:

+ Công ty cổ phần Nuôi và Dịch vụ thuỷ đặc sản lỗ 150 triệu đồng.

+ Công ty cổ phần Phát triển nuôi trồng Thuỷ sản Thừa Thiên Huế lỗ 70 triệu đồng. Nguyên nhân chủ yếu: Do khó khăn thị trường xuất khẩu và tôm bị nhiễm bệnh.

+ Công ty cổ phần Tân Hoàng Cung lỗ 7,9 tỷ đồng. Đây là số lỗ theo kế hoạch của những năm đầu sau khi hoàn thành dự án đầu tư đưa khách sạn Tân Hoàng Cung vào khai thác.

            + Công ty cổ phần Khoáng sản Gạch men Thừa Thiên Huế (do thiếu vốn kinh doanh và bị cạnh tranh gay gắt trên thị trường nhưng năm 2006 đã bắt đầu có lãi)

            + Công ty cổ phần Xây dựng Thuỷ lợi (do thiếu vốn và bộ máy quản lý kém hiệu quả)

            + Công ty cổ phần Sông Hương (do phương án cổ phần hoá thiếu tính khả thi, bộ máy quản lý kém và thiếu vốn do các cổ đông không góp đủ vốn như đã cam kết)

            + Công ty cổ phần Du lịch Huế (cơ sở kinh doanh bị thu hẹp và đang chuẩn bị đầu tư nên doanh thu hạn chế, không đủ bù đắp chi phí).

            c. Vốn Điều lệ: Vốn Điều lệ bình quân doanh nghiệp năm 2006 gấp 1,39 lần tại thời điểm chuyển đổi, việc tăng vốn tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp chuyển đổi từ năm 2004 trở về trước. Việc tăng vốn Điều lệ còn hạn chế do tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp còn thấp, quy mô hoạt động nhỏ, lãi suất cổ tức thấp nên thiếu sức hấp dẫn, không thu hút các nhà đầu tư. Mặt khác, do một số doanh nghiệp kinh doanh có lãi chỉ muốn sử dụng vốn vay hoặc chiếm dụng vốn để kinh doanh nhằm mục đích tăng thêm cổ tức cho các cổ đông nên không phát hành thêm cổ phiếu.

            d. Lao động: Có 23 doanh nghiệp tăng trưởng về lao động so với thời điểm sắp xếp, chuyển đổi; mức tăng bình quân đạt 65%, chủ yếu là các doanh nghiệp đã sắp xếp từ trước năm 2005, nay mở rộng về quy mô kinh doanh nên tuyển dụng thêm lao động. Các doanh nghiệp khác giảm lao động do sắp xếp lại tổ chức sản xuất kinh doanh trong và sau khi cổ phần hoá.

            đ. Thu nhập bình quân của người lao động: 1.387.000 đ/người/tháng so với trước cổ phần là 1.008.000 đ/người/tháng, tăng 37,5 %.

            e. Số nộp ngân sách: giảm 12% so với trước do một số doanh nghiệp thay đổi cơ cấu ngành nghề kinh doanh và do thực hiện chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp sau cổ phần hoá theo quy định của Nhà nước.

            g. Hiệu quả sử dụng vốn: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn Điều lệ bình quân 9,1 %/doanh nghiệp/năm; tuy nhiên, hiệu quả không đều giữa các doanh nghiệp, cụ thể:

            - Có 21 doanh nghiệp có tỷ suất khá (từ 12% đến 68%) như: Công ty cổ phần Phát triển thuỷ sản (68,2%), Công ty cổ phần Long Thọ (59,8%), Công ty cổ phần Cơ khí Ôtô Thống Nhất (43,2 %),...

            - Có 18 doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận còn thấp (từ 0,5% đến dưới 12%)

            - Các doanh nghiệp còn lại chưa có lãi nên không tính được chỉ tiêu này.

(Có các phụ lục chi tiết số 3a, 3b, 4 kèm theo)

2. Các doanh nghiệp chuyển sang công ty TNHH nhà nước một thành viên:

            a. Doanh thu: Hầu hết đều tăng, tỷ lệ tăng bình quân: 20,6 %, trong đó có những doanh nghiệp tăng mạnh như: Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Nam Hoà (tăng 167%), Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Phú Lộc (tăng 142%)....

b. Hiệu quả kinh doanh: Tiếp tục ổn định so với trước: Năm 2006 có 11/12 DN có lãi (chiếm tỷ lệ 91%), bình quân 01 doanh nghiệp lãi 8,5 tỷ trong đó các DN có lãi lớn là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Khoáng sản Thừa Thiên Huế, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Xổ số kiến thiết Thừa Thiên Huế, Công ty TNHH Nhà nước một thành viên Xây dựng và cấp nước Thừa Thiên Huế....

c. Các chỉ tiêu khác như : Số nộp ngân sách nhà nước, lao động và thu nhập bình quân đều tăng so với trước.

(Có phụ lục chi tiết số 5a, 5b kèm theo)

3. Sáp nhập vào doanh nghiệp khác: Đã thực hiện sáp nhập 18 doanh nghiệp vào các doanh nghiệp nhà nước khác. Các doanh nghiệp bị sáp nhập phần lớn sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, bế tắc trong hướng kinh doanh, nợ vay không có khả năng trả. Nhìn chung, do tình hình khó khăn về tài chính của các doanh nghiệp bị sáp nhập nên đã ảnh hưởng nhất định đến tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhận sáp nhập. UBND tỉnh  đã có nhiều biện pháp xử lý, hỗ trợ về tài chính (xoá lỗ, miễn giảm thuế, bổ sung vốn...) nên sau khi sáp nhập, các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động khá ổn định và phát triển, người lao động tiếp tục có công ăn việc làm.., . Việc sáp nhập nhìn chung đã đạt kết quả khá tốt, đạt được các yêu cầu đề ra. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp sáp nhập vào các doanh nghiệp Trung ương hoặc ngoài địa bàn Tỉnh sắp xếp, ổn định sản xuất, chuyển biến  chậm, như: Công ty Thương nghiệp miền núi; Công ty Thương mại tổng hợp tỉnh.

4. Giải thể, phá sản doanh nghiệp nhà nước:

Đã thực hiện giải thể 10 doanh nghiệp, phá sản 5 doanh nghiệp do kinh doanh kém hiệu quả kéo dài, bế tắc trong định hướng sản xuất kinh doanh nên không thể củng cố và sắp xếp theo các hình thức khác được.

Quá trình thực hiện giải thể và phá sản kéo dài chủ yếu do xử lý tài chính (thu nợ, bán tài sản...). Nhìn chung khi giải thể, phá sản, Nhà nước và các chủ nợ đều bị tổn thất do doanh nghiệp thua lỗ mất khả năng thanh toán, nợ phải thu hầu hết đều khó đòi, tài sản bị hư hỏng, xuống cấp rất khó bán, người lao động mất việc làm ...đã ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.   

Các doanh nghiệp giải thể đã xử lý xong tài sản và thu hồi nợ (trừ các khoản nợ không thể đòi được) để trang trải chi phí giải thể, giải quyết chính sách cho người lao động và thanh toán cho các chủ nợ. Việc xử lý tài chính và thực hiện chính sách đối với người lao động thực hiện đúng theo các quy định của Nhà nước. 

            Đến nay, đã có 4 doanh nghiệp thực hiện phá sản và một số tài sản đã được nhượng bán, chuyển sang giai đoạn chào bán tài sản, Doanh nghiệp còn lại là Công ty Sản xuất Giày xuất khẩu và Hàng tiêu dùng Huế chuẩn bị họp Hội nghị chủ nợ. Việc thu hồi nợ và bán tài sản của các doanh nghiệp này kéo dài, nguyên nhân cũng như đối với các doanh nghiệp giải thể. Việc giải quyết chính sách trợ cấp cho người lao động đến nay cơ bản đã hoàn thành và thực hiện đúng theo các quy định của Nhà nước, chỉ cá biệt còn một số trường hợp giải quyết hưu trí theo Nghị định 41/2002/NĐ-CP chưa giải quyết được, do doanh nghiệp không có khả năng đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động nhiều năm nay. 

IV. Đánh giá chung quá trình sắp xếp, chuyển đổi trong thời gian qua:

1.       Kết quả đạt  được :

         - Các doanh nghiệp sau sắp xếp, chuyển đổi đã tạo được những chuyển biến tích cực hơn mô hình Doanh nghiệp Nhà nước về mọi mặt: quy mô hoạt động, năng lực quản lý, tổ chức; tốc độ tăng doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh, các chỉ tiêu vốn và tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ tăng...   

         - Quá trình chỉ đạo, UBND tỉnh đã kịp thời rút kinh nghiệm trong việc thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp, nên từ năm 2004 đến nay đã triển khai từng bước vững chắc, tạo được chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước; hình thành các doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; thu hút thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo thêm động lực và cơ chế quản lý mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.


Nguyên nhân chủ yếu về kết quả đạt được:
 

- UBND tỉnh đã chỉ đạo, tạo sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh và các sở, ngành chức năng có kế hoạch triển khai cụ thể với nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; trên cơ sở phân loại các doanh nghiệp theo khả năng, thực trạng tài chính và tiêu chí phân loại do Chính phủ quy định để xác định hình thức sắp xếp, chuyển đổi cho từng doanh nghiệp theo từng giai đoạn cụ thể và đưa ra đề án sắp xếp theo mô hình thích hợp.

 - Đã thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm trong quá trình theo dõi, chỉ đạo sắp xếp, chuyển đổi; hoàn thiện quy trình nhằm đẩy nhanh quá trình sắp xếp chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước (Quyết định số 671/QĐ-UB ngày 12/3/2003 và Quyết định số 1289/QĐ-UB ngày 12/4/2005 của UBND tỉnh về ban hành Quy trình sắp xếp chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước).

            - Thường xuyên tổ chức công tác tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về cổ phần hóa và sắp xếp chuyển đổi sở hữu cho đội ngũ cán bộ từ lãnh đạo đến nghiệp vụ của các đơn vị thuộc diện chuyển đổi, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ công nhân viên trong các doanh nghiệp nhà nước, người lao động trong việc tiến hành sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp.

- Từ sở hữu Nhà nước chuyển sang hình thức đa sở hữu, trong đó nâng cao vai trò làm chủ của người lao động, nên ý thức trách nhiệm trong việc theo dõi, quản lý và tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần tích cực nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, tập thể và lợi ích thiết thực của người lao động tạo ra động lực để doanh nghiệp phát triển.

- Bộ máy quản lý gọn nhẹ, cơ chế quản lý thông thoáng, chủ động trong tổ chức, điều hành doanh nghiệp; đồng thời có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ hơn của hội đồng quản trị, ban kiểm soát và cổ đông.

- Các tổ chức chính trị trong doanh nghiệp được duy trì hoạt động có hiệu quả trong đó các Đảng bộ, Chi bộ cơ sở và tổ chức Công đoàn cơ sở đóng vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, đúng định hướng và chủ trương phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước.

2.       Những tồn tại, yếu kém:

          - Việc sắp xếp, chuyển đổi mặc dù đã có sự chỉ đạo chặt chẽ và quan tâm nhưng nhìn chung vẫn thiếu sự linh hoạt, thiếu kiên quyết.

           - Quy mô của các doanh nghiệp sau sắp xếp chuyển đổi vẫn còn nhỏ. Nhiều doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa bằng việc bán cổ phần nhà nước nên vốn điều lệ  thực hiện cổ phần hóa không cao hơn vốn chủ sở hữu trước đó bao nhiêu, chỉ thay đổi về chủ sở hữu.

- Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước vẫn còn mang tính khép kín, tỷ lệ cổ phần bán ra bên ngoài ở nhiều doanh nghiệp đạt thấp.

- Cấp uỷ đảng các cấp ở các doanh nghiệp chưa thật sự quan tâm đúng mức, nên phương án sắp xếp chuyển đổi, phương án sản xuất kinh doanh sau sắp xếp chuyển đổi hiệu quả chưa cao.

- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở một số doanh nghiệp sau sắp xếp, chuyển đổi chưa thật sự đổi mới so với trước khi sắp xếp, chuyển đổi; vai trò người quản lý vốn nhà nước ở một số doanh nghiệp chưa phát huy đúng yêu cầu và quy định; vai trò hội đồng quản trị, quyền hạn của các cổ đông một số doanh nghiệp chưa được coi trọng...đội ngũ người lao động mới cơ bản giải quyết được lao động dôi dư, chưa thực hiện tốt công tác tuyển dụng mới lực lượng có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.

- Quá trình theo dõi, quản lý hoạt động của các doanh nghiệp sau sắp xếp chưa sâu sát, kịp thời và còn lỏng lẻo; các cơ quan quản lý nhà nước liên quan (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở quản lý chuyên ngành, Tài chính,Thuế...) còn thiếu các biện pháp phối hợp theo dõi, định hướng giúp đỡ doanh nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển trong cơ chế mới. Cá biệt có một số sở, ngành can thiệp quá sâu trong hoạt động của doanh nghiệp, vi phạm quy định của Luật Doanh nghiệp, Điều lệ hoạt động của Công ty.

           - Vẫn còn một số doanh nghiệp sau chuyển đổi hoạt động kinh doanh thua lỗ, tình trạng yếu kém từ doanh nghiệp nhà nước kéo dài không được xử lý dứt điểm, còn tình trạng “bình mới rượu cũ”.


      Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém:

        - Đa số người lao động trong các doanh nghiệp đời sống còn khó khăn, thu nhập còn thấp, với chính sách như hiện nay một số người vẫn không mua được hết cổ phần ưu đãi; vì vậy, nếu không có chính sách cho vay mua để cổ phần thì sau một thời gian ngắn người lao động sẽ nhượng lại không công khai dẫn đến không còn cổ phần trong doanh nghiệp, sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến mục đích của việc cổ phần hoá doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc người lao động không mua hết cổ phần ưu đãi còn do một số nguyên nhân khác: do sự hấp dẫn của việc đầu tư cổ phiếu còn thấp (tính rủi ro cao, việc chuyển nhượng khó khăn, cổ tức không ổn định...) và tâm lý của người người lao động.

- Một số chính sách, chế độ cụ thể đối với doanh nghiệp nhà nước được chuyển đổi sở hữu còn nhiều vướng mắc, chưa đủ sức hấp dẫn và lôi cuốn các doanh nghiệp; chế độ ưu đãi về thuế còn thấp; trong thực tế, một số mặt hoạt động các doanh nghiệp nhà nước thuận lợi hơn các các công ty cổ phần.

- Việc áp dụng hệ số lợi thế kinh doanh trong việc tính toán xác định giá trị thực tế vốn nhà nước có vị trí mặt bằng thuận lợi và hệ số sinh lợi cao sau khi cổ phần hóa; trong khi thời gian giao quyền sử dụng đất tương đối dài (thường là 30-50 năm); việc nghiên cứu và hướng dẫn thiếu cụ thể nên khó khăn trong việc thống nhất việc tính toán giá trị doanh nghiệp.

            - Trong các cơ quan hành chính nhà nước và trong nhận thức của xã hội có lúc, có nơi còn có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp cổ phần và các doanh nghiệp nhà nước như trong quan hệ làm việc với một vài cơ quan quản lý nhà nước, trong vay vốn, trong đối xử với người lao động;...

V. Bài học kinh nghiệm :

- Khi sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, để xác định hình thức sắp xếp phù hợp trước hết cần căn cứ vào thực trạng hoạt động của doanh nghiệp. Căn cứ vào đề án đã được phê duyệt cần chú trọng đánh giá sát tình hình thực tế để xử lý tình huống khi doanh nghiệp có sự biến động lớn về tài chính, nếu không cổ phần hóa được thì chuyển ngay sang giao, bán ...nếu không giao, bán được thì kiên quyết giải thể, phá sản.

- Cổ phần hóa phải bảo đảm quyền làm chủ thực sự của các cổ đông, trong đó phải có đông đảo người lao động để tạo động lực mạnh bên trong doanh nghiệp. Ngoài ra cũng cần công khai bán cổ phần ra ngoài doanh nghiệp để thu hút vốn, chất xám của toàn xã hội nhất là các nhà đầu tư chiến lược để tạo thêm động lực cho doanh nghiệp phát triển. Những lĩnh vực nếu xét thấy Nhà nước không cần tham gia vốn thì bán hết.

- Nếu doanh nghiệp có đủ điều kiện cổ phần thì phải làm lành mạnh hóa tình hình tài chính trước chuyển đổi; mặt khác, phải có phương án sản xuất kinh doanh sau cổ phần có tính khả thi cao. Bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp cùng tập thể người lao động phải nhất trí, quyết tâm đổi mới và phát triển doanh nghiệp.

- Việc sắp xếp, chuyển đổi vừa phải bảo đảm tiến độ, vừa phải bảo đảm sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp sau sắp xếp, tránh chạy theo tiến độ mà không bảo đảm chất lượng.

- Đối với các doanh nghiệp sau cổ phần còn vốn Nhà nước, việc lựa chọn người trực tiếp quản lý phần vốn Nhà nước cần cân nhắc kỹ, tránh tình trạng độc quyền (chọn 1 người) và phải kiểm tra theo dõi sát, thường xuyên, nếu không đảm bảo yêu cầu cần phải thay thế ngay.

VI. Một số giải pháp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sau sắp xếp, chuyển đổi tiếp tục đổi mới, phát triển:

            - Tăng cường phổ biến các chế độ chính sách lớn liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Kế toán, Luật Đầu tư...tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển...

            - Tiếp tục theo dõi quản lý nắm sát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp để kịp thời hướng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhất là về thông tin thị trường, về cơ chế chính sách mới. Đối với những người được giao đại diện quản lý phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp cần  kiểm tra cụ thể nếu thấy có biểu hiện cá nhân, độc đoán, thiếu năng lực ...làm ảnh hưởng đến sự hoạt động và phát triển doanh nghiệp cần thay thế ngay.

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng đầu tư phát triển kinh doanh thông qua việc tư vấn, định hướng, cung cấp thông tin các dự án đầu tư...theo các quy định của pháp luật.

- Lãnh đạo doanh nghiệp là cốt lõi, là xương sống của doanh nghiệp, do đó Nhà nước cần có chiến lược đào tạo và đào tạo lại dưới nhiều hình thức, tạo điều kiện cho đội ngủ quản lý doanh nghiệp nắm vững kiến thức quản lý kinh tế, các cơ chế chính sách mới ...nhằm giúp doanh nghiệp tiếp tục ổn định và phát triển bền vững sau sắp xếp.

- Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính Nhà nước, để đạt được hiệu quả thực sự; các cơ quan quản lý Nhà nước cần hết sức tạo điều kiện giải quyết nhanh gọn, thông thoáng đúng quy định của pháp luật các cơ chế chính sách ưu đãi, hỗ trợ mà các doanh nghiệp sau sắp xếp được hưởng. Xóa bỏ tư tưởng phân biệt trong đối xử, giải quyết công việc, cơ  chế ưu đãi giữa doanh nghiệp nhà nước và các loại hình doanh nghiệp khác.

- Các cấp uỷ đảng cấp trên, cấp uỷ đảng cơ sở cần quan tâm theo dõi, chỉ đạo các tổ chức chính trị, chính trị xã hội trong các doanh nghiệp; thường xuyên đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo, hiệu quả hoạt động phù hợp với các quy định trong cơ chế tổ chức hoạt động mới của các doanh nghiệp để bảo đảm thực hiện được vai trò của mình nhằm giúp doanh nghiệp đi đúng hướng, ngày càng phát triển theo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần giải quyết hài hoà 3 lợi ích: lợi ích của xã hội, của doanh nghiệp, của các cổ đông và của người lao động.

- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển sang công ty TNHH Nhà nước một thành viên nhằm tối ưu hoá cơ chế quản lý, đa dạng hóa sở hữu nhằm làm cho doanh nghiệp ngày càng tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh; qua đó, tao điều kiện nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập.

Cần phải tạo được nhận thức chung cho các doanh nghiệp thấy rõ cổ phần hoá không phải là điều kiện cần và đủ để bảo đảm các doanh nghiệp sau sắp xếp đều tăng trưởng và phát triển một cách bền vững lâu dài mà chỉ giúp DN đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế sở hữu vốn, sử dụng lao động có hiệu quả hơn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tăng sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường hội nhập khu vực và quốc tế. Mặt khác sau cổ phần hoá vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại của cơ chế quản lý cũ chưa được xử lý dứt điểm và xoá bỏ ngay như : tình hình tài chính, bộ máy quản lý, lề lối, tư tưởng làm việc...nên vấn đề đặt ra là sau cổ phần các doanh nghiệp phải tự thường xuyên đổi mới, lành mạnh hoá mọi mặt hoạt động của mình mới có thể phát triển bền vững được. 


     Kết luận:
Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4(khoá VII) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và sau 5 năm thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 26/7/2002 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XII; đồng thời với việc tiếp tục thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp đạt và vượt so với yêu cầu,  mục tiêu, định hướng mà Nghị quyết đã đề ra. Tuy nhiên vẫn còn những thiếu sót cần nghiêm túc, thẳng thắn nhìn nhận, đánh giá rút kinh nghiệm khắc phục sửa chữa để tiếp tục hoàn thành tốt công tác sắp xếp chuyển đổi các doanh nghiệp còn lại và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sau chuyển đổi tiếp tục ổn định và phát triển bền vững nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. 

Phần II
KẾ HOẠCH SẮP XẾP, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THUỘC TỈNH THỪA THIÊN HUẾ GIAI ĐOẠN 2007 - 2010:

I. Một số căn cứ xây dựng kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước từ nay đến năm 2010:

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: "Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích. Đẩy mạnh và m rộng diện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà nước. Việc xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa, kể cả giá trị quyền sử dụng đất, phải theo cơ chế thị trường. Đề phòng và khắc phục những lệch lạc, tiêu cực trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 5 tháng 02 năm 2007 của Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trương Đảng khoá X về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới nhấn mạnh: "Khẩn trương thực hiện chương trình sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, trọng tâm là thực hiện cổ phần hoá...", " Tập trung chỉ đạo sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của những doanh nghiệp lớn trong những ngành, lĩnh vực quan trọng để làm tốt vai trò chủ lực trong hội nhập kinh tế quốc tế...", " Kiên quyết chấm dứt tình trạng biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp."  

Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đã đưa ra các nhóm giải pháp khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế: "Tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng, sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Các doanh nghiệp có vốn nhà nước phải nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh để tồn tại".

Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn mới 2007-2010 đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế vừa thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính; vừa thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, đòi hỏi phải nâng cao tính công khai, minh bạch nhằm góp phần cho doanh nghiệp phát triển có tính bền vững.  

II. Kế hoạch sắp xếp, chuyển đổi các doanh nghiệp năm 2006 chuyển sang :

           1. Tiếp tục cổ phần hoá 4 doanh nghiệp đã triển khai dở dang trong năm 2006: Công ty Xây Lắp Thừa Thiên Huế, Công ty Du lịch Hương Giang, Công ty Du lịch Cố Đô Huế và Nhà máy Bia Huế và hoàn thành công tác sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định 64/QĐ-TTg ngày 14/01/2003 và Quyết định 63/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó:

          - Công ty Du lịch Hương Giang, Công ty Xây lắp Thừa Thiên Huế hoàn thành niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán trong quý II năm 2007.

          - Nhà máy Bia Huế: Quá trình thực hiện phần vốn góp tại Công ty Bia Huế đầu tư dự án mở rộng với phương thức huy động nguồn vốn bằng việc chuyển lãi đầu tư mới; mặt khác, đây là doanh nghiệp góp vốn để liên doanh nên việc thay đổi đối tác sau khi chuyển đổi cần có sự thống nhất với đối tác nước ngoài trong liên doanh. Vì vậy, kế hoạch thực hiện:

+ Cổ phần hoá 1 bộ phận Nhà máy (phần sản xuất các sản phẩm chính hiện nay của Nhà máy) hoàn thành trong quý III năm 2007.

+ Cổ phần hoá toàn bộ Nhà máy (kể cả phần vốn góp vào Công ty Bia Huế) hoàn thành vào năm 2009.

        - Công ty Du lịch Cố Đô Huế: Do thời hạn liên doanh tại Công ty liên doanh Khách sạn Bờ sông thanh lịch kết thúc vào năm 2011 và việc xử lý một số vấn đề về tài chính nên điều chỉnh kế hoạch hoàn thành việc chuyển đổi vào quý IV năm 2011 theo hình thức Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn điều lệ.

    2. Giải quyết dứt điểm các doanh nghiệp trong diện phá sản.  

 

III. Kế hoạch tiếp tục sắp xếp, chuyển đổi các doanh nghiệp đã chuyển sang công ty TNHH Nhà nước một thành viên theo tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 38/2007/2007/QĐ-TTg Ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ:

1. Hình thức sắp xếp, chuyển đổi: Căn cứ Quyết định số 38/2007/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó nêu rõ quan điểm có tính định hướng cho việc sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước là Nhà nước chỉ duy trì 100% vốn đối với những doanh nghiệp hoạt động trong 19 ngành, lĩnh vực an ninh quốc phòng, các lĩnh vực quan trọng đối với việc đảm bảo ổn định kinh tế -xã hội của đất nước; Nhà nước chỉ nắm giữ cổ phần chi phối đối với một số  "doanh nghiệp tham gia sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích"; "Những doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa"; một số doanh nghiệp "có vai trò đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, bình ổn thị trường". 

Dự kiến các công ty TNHH Nhà nước một thành viên sẽ được sắp xếp, chuyển đổi theo hình thức và tiến độ như sau:

1.1. Giữ nguyên hình thức Công ty TNHH Nhà nước một thành viên (Nhà nước nắm giữ 100% vốn) đối với các doanh nghiệp:

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Xổ số kiến thiết (quy định tại mục I của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Quản lý khai thác công trình thủy lợi Thừa Thiên Huế (quy định tại mục I của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Nam Hòa (Quản lý rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ; quy định tại mục I của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Tiền Phong (Quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; quy định tại mục I của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

1.2. Đa dạng hóa hình thức sở hữu dưới hình thức cổ phần hóa:

a. Những doanh nghiệp khi cổ phần hóa, Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần:

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế: Công ty làm nhiệm vụ khai thác, lọc và cung cấp nước sạch trên địa bàn toàn tỉnh (quy định tại khoản 3 mục II của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Môi trường và Công trình đô thị Huế: Trong các hoạt động của Công ty có nhiệm vụ thoát nước và chiếu sáng đô thị (quy định khoản 1 mục II của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Quản lý, bảo trì và xây dựng đường bộ Thừa Thiên Huế (quy định tại khoản 1 mục II của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Quản lý đường bộ và xây dựng công trình Thừa Thiên Huế (quy định tại khoản 1 mục II của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg).

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Khoáng sản Thừa Thiên Huế (Công ty hoạt động trong lĩnh vực khai thác quặng có hàm lượng chất phóng xạ nhưng không sản xuất, cung ứng trực tiếp chất phóng xạ quy định tại mục I của Tiêu chí ban hành kèm theo Quyết định 38/2007/QĐ-TTg, có ảnh hưởng đến cân đối ngân sách quốc gia và địa phương; việc khai thác nguyên liệu phải có sự lồng ghép các chương trình kinh tế - xã hội khác trong vùng nguyên liệu).

b. Những doanh nghiệp khi cổ phần hóa, Nhà nước giữ dưới 50% vốn Điều lệ hoặc không nắm giữ cổ phần:

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Quản lý Bến xe bến thuyền Thừa Thiên Huế.

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Phong Điền.

- Công ty TNHH nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Phú Lộc (Trước khi cổ phần hoá, Công ty thực hiện bàn giao toàn bộ diện tích rừng phòng hộ cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Hải Vân quản lý).

Kế hoạch sắp xếp, cổ phần hoá các Công ty TNHH nhà nước một thành viên giai đoạn 2007–2010 nêu trên, trong quá trình thực hiện tuỳ theo tình hình thực tế sẽ điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

2. Tiến độ sắp xếp, chuyển đổi:

2.1. Năm 2007:

     Cổ phần hoá các công ty nhà nước chuyển từ năm 2006, cụ thể:

Stt

Doanh nghiệp

Thời điểm hoàn thành

Tỷ lệ % cổ phần Nhà nước nắm giữ

1

Công ty Xây lắp Thừa Thiên Huế

Quý IV

Trên 50% (Công ty Mẹ)

2

Công ty Du lịch Hương Giang

Quý III

Trên 50% (Công ty Mẹ)

3

Các bộ phận sản xuất nắp chai, sửa chua, kem, thạch rau câu, chíp trái cây – Nhà máy Bia Huế

 

Quý IV

 

Dưới 50%

2.2. Năm 2008:

Hoàn thành việc cổ phần hoá các doanh nghiệp sau:

Stt

Doanh nghiệp

Thời điểm hoàn thành

Tỷ lệ % cổ phần Nhà nước nắm giữ

1

Công ty TNHH nhà nước một thành viên Quản lý, bảo trì và xây dựng đường bộ Thừa Thiên Huế

Quý II

Trên 50%

2

Công ty TNHH nhà nước một thành viên Quản lý đường bộ và xây dựng công trình Thừa Thiên Huế

 

Quý II

 

Trên 50%

3

Công ty TNHH nhà nước một thành viên Quản lý Bến xe bến thuyền Thừa Thiên Huế

Quý IV

Dưới 50%

4

Công ty TNHH nhà nước một thành viên Khoáng sản Thừa Thiên Huế

Quý IV

Trên 50%

 

5

Công ty TNHH nhà nước một thành viên Xây dựng và Cấp nước Thừa Thiên Huế

Quý IV

Trên 50%

 

6

Công ty TNHH nhà nước một thành viên Môi trường và Công trình đô thị Huế

Quý IV

Trên 50%

 

2.3. Năm 2009: Hoàn thành cổ phần hoá các doanh nghiệp

 

Stt

Doanh nghiệp

Thời điểm hoàn thành

Tỷ lệ % cổ phần Nhà nước nắm giữ

1

Nhà máy Bia Huế

Quý IV

Trên 50%

2

Công ty TNHH nhà nước 1 thành viên  Lâm nghiệp Phong Điền

Quý IV

Dưới 50%

3

Công ty TNHH nhà nước 1 thành viên  Lâm nghiệp Phú Lộc

Quý IV

Dưới 50%

2.4. Năm 2011: Hoàn thành cổ phần hóa Công ty Du lịch cố đô Huế (Quý IV năm 2011), Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn Điều lệ.

3. Một số giải pháp thực hiện:

- Tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức về sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp đối với cán bộ lãnh đạo và người lao động tại các doanh nghiệp. Có biện pháp xử lý thích hợp, kiên quyết đối với những người có trách nhiệm triển khai thực hiện nhưng không gương mẫu chấp hành lịch trình, kế hoạch sắp xếp, chuyển đổi. Các sở, ngành, địa phương liên quan có trách nhiệm tích cực trong việc chỉ đạo, hướng dẫn cho các doanh nghiệp

- Các sở chuyên ngành căn cứ định mức hiện hành để xây dựng tiêu chuẩn các sản phẩm, dịch vụ công ích hiện đang giao cho các Công ty TNHH nhà nước một thành viên thực hiện để làm căn cứ hợp đồng đặt hàng hàng năm cho các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá, tiến tới đấu giá việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Đối với những vấn đề còn chưa được cụ thể hoá, các định mức đã lạc hậu cần đề nghị các Bộ, Ngành Trung ương xem xét bổ sung sửa đổi kịp thời. 

- Cần thực hiện dứt điểm việc giao rừng cho các Công ty; phân loại cụ thể để thực hiện theo phương thức đặt hàng quản lý hay kinh doanh đúng theo tính chất từng loại rừng.

- Chỉ đạo đẩy nhanh việc hoàn thành các dự án của Công ty Bia Huế để thực hiện các nội dung quy định theo văn bản thoả thuận trong liên doanh, khẩn trương xác định giá trị doanh nghiệp thực hiện hoàn thành cổ phần hoá Nhà máy Bia Huế theo tiến độ.

- Nắm bắt cụ thể, kịp thời các diễn biến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong lộ trình sắp xếp 2007-2010 để xử lý khẩn trương các vướng mắc đảm bảo đúng tiến độ sắp xếp, chuyển đổi.


            Trên đây là những nội dung của Báo cáo
Kết quả sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1998-2006 và Kế hoạch sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đến năm 2010.

           Từ những bối cảnh, yêu cầu về việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước giai đoạn từ nay đến năm 2010 và những giải pháp thực hiện trên đây; với những tiềm lực hiện có của tỉnh Thừa Thiên Huế, bên cạnh những nỗ lực của đội ngũ doanh nghiệp sau sắp xếp, đổi mới cần có sự hỗ trợ nhiều hơn nữa của Trung ương thông qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển hệ thống đào tạo nguồn nhân lực; thị trường tài chính, chứng khoán, ngân hàng...; có cơ chế chính sách ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư, các tập đoàn kinh tế mạnh đầu tư thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế; có như vậy doanh nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế mới có thể phát triển, đảm bảo năng lực cạnh tranh trong sân chung toàn cầu của giai đoạn Việt Nam tham gia vào Tổ chức Thương mại thế giới./.  

 
 
 TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)

Nguyễn Xuân Lý
  Tệp đính kèm
Hiện thuộc tính văn bản
Số văn bản 39/ĐA-UBND
Ngày ban hành 26/06/2007
Người ký Nguyễn Xuân Lý
Trích yếu Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đến năm 2010
Cơ quan ban hành UBND tỉnh
Phân loại Đề án
[  Các văn bản khác]
® Chịu trách nhiệm nội dung Cổng thông tin điện tử Thừa Thiên Huế
©2008 Trung tâm Tin học Hành chính - Văn phòng UBND tỉnh